Kỹ thuật · · 4 phút đọc
Gốm Bàu Trúc nặn bằng đất gì
Gốm Bàu Trúc làm từ ba thứ: đất sét, cát và nước ngọt. Buổi nung cần thêm củi và rơm. Hồ sơ UNESCO ghi cả năm thứ, đất sét, cát, nước, củi và rơm, đều lấy ở quanh làng. Bài này đi theo cục đất, từ thửa ruộng tới lúc người thợ đặt nó lên bệ để nặn.
Đất nằm dưới ruộng lúa
Đất sét của làng lấy ở cánh đồng bên bờ sông Quao. Các bài báo ghi khoảng cách từ làng tới chỗ lấy đất khác nhau khá xa, nên bài này không nêu con số đó.
Theo Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, người thợ chọn một khu ruộng khô ráo. Họ đào sâu khoảng nửa mét đến một mét, tới khi gặp một lọn đất sét dài thì dừng. Phần trên và phần dưới của lọn đất bị bỏ đi. Người thợ chỉ lấy phần giữa, vì phần này dính nhất và ít lẫn sạn, tạp chất.
Lấy đất xong, người ta lấp hố lại và trồng lúa ngay trên chỗ đó. Mùa lũ hằng năm mang đất mới về. Sau khoảng một năm, chỗ cũ lại đào được.
Bảo tàng viết rằng nguồn đất ở đây không bao giờ khan hiếm. Hồ sơ UNESCO thì ghi một rủi ro khác: đô thị hóa làm việc tiếp cận nguyên liệu khó hơn. Hai câu không mâu thuẫn. Đất dưới ruộng có thể còn nhiều, nhưng ruộng phải còn là ruộng thì người làng mới đào được.

Đất dính
Tuổi Trẻ tả đất sông Quao là thứ đất mịn và dẻo rất riêng. Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ ghi đất ở đây có độ kết dính cao.
Độ dính đó quyết định cách nặn của cả làng. Đất bám vào tay và bám vào chính nó, nên đặt lên bàn xoay là tụt. Bài "Vì sao gốm Bàu Trúc không dùng bàn xoay" kể kỹ chuyện này.

Phơi, đập, ngâm
Đất mang về chưa nặn được ngay. Hai nguồn kể bước này hơi khác nhau, nhưng cùng một trình tự: làm khô, làm nhỏ, rồi làm ướt lại.
Theo Tuổi Trẻ, đất sét được đập và chia thành từng miếng nhỏ, rồi đem phơi khô. Người ta sàng bỏ tạp chất. Sau đó đất được ngâm nước trong một cái hố đào sẵn ở chỗ thoáng mát. Ngâm qua ngày thì vớt lên, chia theo kích thước món định làm.
Theo Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, đất phơi khô và đập nhỏ được trộn với một lượng nước vừa đủ, rồi ủ qua đêm. Sáng hôm sau mới tới bước pha cát.
Pha cát
Đất sét được trộn với cát mịn lấy từ sông suối quanh làng. Pha bao nhiêu cát là chuyện riêng của từng người thợ. Tuổi Trẻ ghi lại câu này: mỗi người mỗi cách, không ai chỉ cho ai được.
Vì vậy hai người thợ lấy đất cùng một thửa ruộng vẫn có thể ra hai chất đất khác nhau. Bài này không nêu tỉ lệ pha, vì tỉ lệ thuộc về người làm.
Cát làm gì bên trong khối đất thì các nguồn chúng tôi đọc không giải thích theo cách của người làm vật liệu. Bài này vì thế không giải thích thay.
Nhồi bằng chân, rồi nhồi bằng tay
Khối đất pha cát được nhồi bằng chân trước. Ảnh đầu bài chụp đúng bước này: một bàn chân trần dẫm lên khối đất trên nền sân.
Nhồi xong, đất được ủ qua đêm hoặc khoảng một tiếng. Trước khi tạo dáng, người thợ nhồi lại bằng tay một lần nữa. Họ lăn những lọn đất hình trụ trên một tấm ván phẳng có rải một lớp cát mỏng. Lớp cát này vừa chống dính, vừa thêm cát vào đất.
Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ ghi hai lý do của việc nhồi:
- Nhồi loại bỏ tạp chất, để món đồ không gãy, không đổ khi đang tạo dáng.
- Nhồi làm đất sét, cát và nước ngọt hòa vào nhau, cho tới khi khối đất không quá dẻo và không quá khô.
Tới đây cục đất mới sẵn sàng lên bệ. Người thợ đi vòng quanh nó, vuốt thành bình lên từng vòng một.

Cái gì của đất còn lại trên món đồ
Sau khi nặn, món đồ được phơi trong bóng râm cho khô từ từ. Rồi nó vào buổi nung lộ thiên ở khoảng 800°C, không tráng men.
Không có men thì không có lớp nào che mặt đất nung. Khi cầm một cái bình Bàu Trúc, tay chạm thẳng vào thứ đất đã đào lên từ dưới ruộng lúa bên sông Quao, đã pha cát theo cách riêng của một người thợ, và đã được nhồi bằng chân rồi bằng tay.




