Kỹ thuật · · 4 phút đọc
Vì sao gốm Bàu Trúc không dùng bàn xoay
Ở phần lớn các làng gốm, việc đầu tiên người thợ làm là đặt cục đất lên bàn xoay. Ở Bàu Trúc, người thợ không có bàn xoay nào để đặt đất lên. Cách làm ấy đến từ chính loại đất mà làng có, hơn là từ ý muốn giữ lối cũ.
Đất quá dính để quay
Đất làm gốm Bàu Trúc được lấy ở ven sông Quao. Loại đất sét này rất dính, bám vào tay và bám cả vào chính nó. Bàn xoay chỉ làm việc được khi đất chịu để lực kéo dàn mỏng ra thành thành bình, mà đất sông Quao thì không chịu. Khối đất đặt lên mâm quay là tụt.
Trước khi nặn, đất được pha thêm cát. Tỉ lệ pha là chuyện riêng của từng người làm, và không ai chỉ cho ai được. Vì vậy cùng một bãi đất, hai người pha theo hai kiểu sẽ ra hai chất gốm khác nhau.

Người đi quanh đất
Khi không có bàn xoay, vẫn phải có thứ gì đó quay vòng. Ở Bàu Trúc, thứ quay vòng ấy là người thợ.
Khối đất được kê lên cao, người thợ đứng sát bên. Một tay người thợ đưa vào lòng khối đất để đỡ, tay ngoài vuốt lên, rồi chân bước giật lùi; cứ bước, vuốt, rồi lại bước. Hết một vòng, thành bình cao thêm một chút, và người thợ lại đi thêm vòng nữa.
Một chiếc bình cần nhiều vòng như thế mới thành hình. Đó là một quãng đi bộ lặp đi lặp lại quanh cùng một khối đất, cho tới khi miệng bình khép lại đúng chỗ người thợ muốn. Đôi chân quyết định tốc độ thay cho mô tơ, còn ngón tay cảm được độ dày của thành bình mà không cần khuôn chặn.
Với người Chăm, nước và lửa có mặt từ lúc một đứa trẻ lọt lòng. Ở người Bàlamôn, lửa còn có mặt lúc hỏa táng, còn người Chăm Bàni tin con người sinh ra từ đất rồi về với đất. Đất, nước, lửa cũng có mặt trong nghề gốm ở đây, dù chưa phải là tất cả, vì đất còn được pha cát và lửa cần rơm với củi. Giữa bàn tay và chiếc bình thì không có bàn xoay, cũng không có khuôn.

Đáy tròn, miệng loe
Cách làm ấy để lại dấu trên hình dáng chiếc bình, và mắt thường đọc được dấu đó.
Gốm quay trên bàn xoay gần như luôn có chân đế vành. Gốm Bàu Trúc có đáy tròn, tì xuống mặt bàn bằng cả một vùng thay vì đứng trên một vành, và miệng bình loe ra.
Thành bình cũng không đều tuyệt đối. Chỗ dày, chỗ mỏng chênh nhau trong khoảng mà bàn tay chấp nhận, khác với khoảng mà máy đo chấp nhận. Khi nhìn nghiêng, vành miệng của hai chiếc bình cùng mẫu không trùng nhau.
Vì vậy người mua sẽ không tìm thấy ở đây dáng bình thắt eo có chân đế vành, kiểu vẫn thấy ở gốm quay. Dáng ấy sinh ra từ một công cụ mà làng này không dùng.

Vì sao méo không phải là lỗi
Nếu người xem mang theo tiêu chuẩn của đồ đúc khuôn, một chiếc bình hơi lệch có thể bị coi là hàng lỗi. Đặt vào đúng cách làm của làng, chỗ lệch ấy lại là bằng chứng.
Bằng chứng thứ nhất là gốm không qua khuôn. Hai món cùng tên, cùng kích thước vẫn khác nhau, vì hai quãng đi bộ quanh đất không bao giờ trùng nhau.
Bằng chứng thứ hai là gốm không qua bàn xoay. Nếu có bàn xoay, hình dáng đã khác ngay từ phần đáy, mà phần đáy lại là chỗ khó giả nhất.
Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2022. Chữ "khẩn cấp" ở đây mang nghĩa nghề đang bị đe dọa, hơn là đang được tôn vinh. Một cách làm chỉ tiếp tục sống khi còn người làm và còn người mua. Phần đáy tròn không đều là chỗ dễ nhận ra nhất rằng món đồ trên bàn vẫn được nặn theo cách cũ, bởi một người đi giật lùi trong một khoảng sân thật.
Nguồn
- UNESCO ICH, Quyết định 17.COM, Rabat
- Cục Di sản văn hóa, mô tả kỹ thuật làm gốm Chăm
- CHAM STUDIES (Thập Liên Trưởng, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm Ninh Thuận), Đất, nước, lửa trong văn hóa người Chăm



